Bỏ qua điều hướng
Liên hệ tư vấn0901.334.334

Chẩn đoán

Khớp thái dương hàm gồm những gì? Hiểu vai trò của đĩa khớp và lồi cầu

Khớp thái dương hàm nối xương hàm dưới với xương thái dương ở hai bên đầu; đĩa khớp, lồi cầu, dây chằng và cơ nhai cùng phối hợp để nói, nhai, nuốt.

Xuất bản: Thứ Tư - 16/09/2026Cập nhật 01/10/20262 phút đọc
Hình minh họa vùng hàm, cơ nhai và khớp thái dương hàm
Hình minh họa vùng hàm, cơ nhai và khớp thái dương hàm

Trả lời ngắn

Khớp thái dương hàm nối xương hàm dưới với xương thái dương ở hai bên đầu; đĩa khớp, lồi cầu, dây chằng và cơ nhai cùng phối hợp để nói, nhai, nuốt.

Khớp thái dương hàm nối xương hàm dưới với xương thái dương ở hai bên đầu; đĩa khớp, lồi cầu, dây chằng và cơ nhai cùng phối hợp để nói, nhai, nuốt.

Những cấu trúc chính của khớp

Đầu lồi cầu nằm trên xương hàm dưới và chuyển động trong vùng khớp của xương thái dương. Ở giữa có đĩa khớp bằng mô sợi giúp phân bố lực trong các vận động. Bao khớp và dây chằng góp phần định hướng, giới hạn cử động; các cơ nhai tạo lực đóng, mở và đưa hàm sang bên.

Mỗi người có hai khớp hoạt động phối hợp. Vì vậy, triệu chứng ở một bên đôi khi liên quan cả chức năng nhai, cơ mặt và vận động bên đối diện.

Điều gì xảy ra khi há miệng?

Khi bắt đầu mở miệng, lồi cầu thực hiện vận động xoay, sau đó trượt ra trước cùng hệ thống đĩa khớp. Nếu đường đi giữa các cấu trúc không nhịp nhàng, người bệnh có thể thấy tiếng kêu hoặc vướng khi há.

Tiếng kêu riêng lẻ không đủ để chẩn đoán bệnh. Nếu không đau và không hạn chế chức năng, nhiều trường hợp không cần điều trị.

Bác sĩ đánh giá những bộ phận nào?

Khám bắt đầu từ vị trí đau, khả năng há miệng, tiếng khớp, độ nhạy của cơ nhai và tiền sử chấn thương. MRI có thể được cân nhắc khi cần đánh giá đĩa khớp; CT hoặc CBCT hữu ích hơn cho cấu trúc xương theo chỉ định.

Kết quả phim cần được đọc cùng triệu chứng. Không thể chỉ dựa vào hình ảnh đĩa khớp hay một tiếng lục cục để kết luận cần phẫu thuật.

Đọc thêm: Chọn CBCT hay MRI khi đau khớp hàm.

Đây là thông tin tham khảo. Nếu đau kéo dài, giới hạn vận động hoặc có dấu hiệu bất thường, người bệnh nên được bác sĩ chuyên khoa thăm khám trực tiếp; không tự nắn hoặc điều trị khớp.

Nguồn tham khảo

  1. NIDCR (NIH): TMD: tổng quan, chẩn đoán, điều trị

Đánh giá bài viết

Bài viết có hữu ích với bạn không? Hãy để lại đánh giá và góp ý.

0.0 / 50 lượt đánh giá
Chọn từ 1 đến 5 sao

Bình luận gửi tại đây chỉ ban quản trị xem, không hiển thị công khai trên website.

Đang tải đánh giá của bạn...

Chia sẻ bài viết cùng lời bình luận của bạn

Thông tin trên website nhằm mục đích cung cấp kiến thức, không thay thế việc khám, chẩn đoán hoặc điều trị trực tiếp bởi nhân viên y tế.

Bài viết liên quan