Bỏ qua điều hướng
Liên hệ tư vấn0901.334.334

Chẩn đoán

Đau khớp hàm sau ngã, va đập: cần lưu ý tổn thương gì?

Sau chấn thương vùng cằm hoặc mặt, đau và hạn chế há miệng có thể do cơ, khớp hoặc xương hàm bị tổn thương. Cần được khám sớm nếu đau nhiều, cắn hai hàm khác trước hoặc vận động bất thường.

Xuất bản: Thứ Tư - 23/09/2026Cập nhật 01/10/20262 phút đọc
Hình minh họa vùng hàm, cơ nhai và khớp thái dương hàm
Hình minh họa vùng hàm, cơ nhai và khớp thái dương hàm

Trả lời ngắn

Sau chấn thương vùng cằm hoặc mặt, đau và hạn chế há miệng có thể do cơ, khớp hoặc xương hàm bị tổn thương. Cần được khám sớm nếu đau nhiều, cắn hai hàm khác trước hoặc vận động bất thường.

Sau chấn thương vùng cằm hoặc mặt, đau và hạn chế há miệng có thể do cơ, khớp hoặc xương hàm bị tổn thương. Cần được khám sớm nếu đau nhiều, cắn hai hàm khác trước hoặc vận động bất thường.

Các tổn thương cần được bác sĩ loại trừ

Va đập có thể gây bầm phần mềm, co cơ bảo vệ, tổn thương dây chằng khớp hoặc gãy xương hàm dưới, gồm vùng lồi cầu. Nếu kèm đau tai, sai lệch khớp cắn mới xuất hiện, răng lung lay hay tê môi, không nên coi đây là TMD thông thường.

Bệnh sử về vị trí và lực va đập cùng khám khớp cắn, răng, cơ và thần kinh giúp bác sĩ lựa chọn bước tiếp theo.

Nên làm gì trong lúc chờ đi khám?

Hạn chế nhai đồ cứng, tránh cố nắn hàm về vị trí cũ và không ép há miệng để kiểm tra. Chườm lạnh qua khăn trong giai đoạn đầu nếu có sưng có thể giúp dễ chịu, nhưng không thay thế khám khi nghi gãy hoặc trật khớp.

Giữ lại hồ sơ cấp cứu, phim và đơn thuốc cũ để bác sĩ đánh giá liên tục, tránh chỉ định chụp lại không cần thiết.

Khi nào cần khám cấp cứu?

Hàm không khép lại được, khó thở, chảy máu nhiều, răng/hàm lệch mới xuất hiện, tê bì sau va chạm hoặc đau dữ dội đều là những lý do đi cấp cứu. Một số trường hợp cần chẩn đoán hình ảnh xương thay vì chỉ điều trị đau cơ.

Sau khi loại trừ tổn thương cấp tính, triệu chứng đau tồn tại mới được đánh giá theo hướng rối loạn chức năng khớp thái dương hàm.

Đây là thông tin tham khảo. Nếu đau kéo dài, giới hạn vận động hoặc có dấu hiệu bất thường, người bệnh nên được bác sĩ chuyên khoa thăm khám trực tiếp; không tự nắn hoặc điều trị khớp.

Nguồn tham khảo

  1. NIDCR (NIH): TMD: tổng quan, chẩn đoán, điều trị

Đánh giá bài viết

Bài viết có hữu ích với bạn không? Hãy để lại đánh giá và góp ý.

0.0 / 50 lượt đánh giá
Chọn từ 1 đến 5 sao

Bình luận gửi tại đây chỉ ban quản trị xem, không hiển thị công khai trên website.

Đang tải đánh giá của bạn...

Chia sẻ bài viết cùng lời bình luận của bạn

Thông tin trên website nhằm mục đích cung cấp kiến thức, không thay thế việc khám, chẩn đoán hoặc điều trị trực tiếp bởi nhân viên y tế.

Bài viết liên quan